Nghiên cứu được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 7 nghiệm thức (NT), 3 lần lặp lại. Các NT gồm: ủ truyền thống (TT), nuôi trùn Quế (VM) và 5 NT ủ compost (CP1-CP5) từ 100%, 75%, 50%, 25% và 0% chất thải bài tiết của dê (GE) lần lượt kết hợp với chất thải thực vật (FW) phát sinh khi cho dê ăn và lưu trữ ở kho. Khi xử lý 100% GE, VM và CP1 có hiệu quả tương đương và vượt trội so với TT. Phân bón hữu cơ từ VM và CP1 gần đạt tiêu chuẩn theo QCVN 01-189:2009/BNNPTNT, chỉ cần điều chỉnh độ ẩm và C/N. Trong các nghiệm thức ủ compost, CP1, CP2 (75% GE + 25% FW), và CP3 (50% GE + 50% FW) mang lại hiệu quả xử lý tương đương và cao hơn so với CP4 (25% GE +75% FW) và CP5 (100% FW). Khuyến nghị trại chăn nuôi dê chủ yếu phát sinh GE, CP1 và VM là lựa chọn tốt. Tuy nhiên, nếu cần xử lý GE cùng FW, nên áp dụng CP2 hoặc CP3 để quản lý chất thải đồng thời sản xuất phân bón hữu cơ.
Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ
Khu II, Đại học Cần Thơ, Đường 3/2, Phường Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ, Việt Nam
Điện thoại: (0292) 3 872 157; Email: tapchidhct@ctu.edu.vn
Chương trình chạy tốt nhất trên trình duyệt IE 9+ & FF 16+, độ phân giải màn hình 1024x768 trở lên